Nghiên cứu tiếp cận Hoàng thành Thăng Long dưới góc nhìn thiết kế đô thị, sử dụng trục, trung tâm, phân lớp và chuỗi không gian để diễn giải cấu trúc tích lũy và chồng lớp qua thời gian. Kết quả xác lập thành phần cấu trúc và mối quan hệ, làm cơ sở đề xuất định hướng bảo tồn và phát huy giá trị di sản nhằm duy trì tính liên tục lịch sử và tính xác thực của di sản.
1. Đặt vấn đề
Kết quả nghiên cứu sử học và đặc biệt là kết quả khai quật khảo cổ học từ hơn 20 năm nay tại 18 Hoàng Diệu và khu vực Hoàng thành Thăng Long đã khẳng định vị trí và vị thế của Hoàng thành Thăng Long, kết thúc mấy chục năm nỗ lực tìm kiếm và tranh luận trong giới chuyên gia từ lịch sử, khảo cổ, văn hoá đến kiến trúc, xây dựng. Hoàng thành Thăng Long với bề dày văn hóa trải qua 13 thế kỷ liên tục là trung tâm quyền lực của quốc gia, từ thời kỳ tiền Thăng Long đến ngày nay, ngoại trừ giai đoạn triều Nguyễn (1802 - 1945) khi kinh đô chuyển vào Huế.
Chính tầm quan trọng và ý nghĩa thiêng liêng của Di sản Hoàng thành Thăng Long khơi dậy niềm tự hào dân tộc sâu đậm trong lòng mỗi người Việt Nam, đồng thời thu hút sự quan tâm của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và các tầng lớp xã hội để bảo tồn và phát huy giá trị của di sản. Đây là một nhiệm vụ rất cần thiết, nhưng rất khó.
Trong lý luận bảo tồn đô thị, Hiến chương Machu Picchu (1977) đã mở rộng phạm vi bảo tồn từ di tích đơn lẻ sang toàn bộ đô thị lịch sử, nhấn mạnh việc bảo vệ không chỉ công trình kiến trúc mà còn cảnh quan, truyền thống văn hóa, bản sắc địa phương và tính liên tục của quá trình biến đổi đô thị [8]. Quan điểm này cho thấy bảo tồn cần được tiếp cận như một chỉnh thể không gian - lịch sử, trong đó cấu trúc không gian và cảnh quan phát triển qua thời gian được nhận diện trong mối quan hệ tổng thể.
Với tinh thần ấy, bài viết tiếp cận từ góc độ thiết kế đô thị để phân tích cấu trúc không gian Hoàng thành Thăng Long. Trên cơ sở đó gợi ý định hướng bảo tồn và phát huy giá trị nổi bật toàn cầu của khu di sản Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội.
2. Quá trình hình thành và biến đổi không gian Hoàng thành Thăng Long
Trên cơ sở kết quả khai quật khảo cổ học và tư liệu lịch sử, có thể khái quát những nét chính của quá trình hình thành và biến đổi không gian Hoàng thành Thăng Long qua các giai đoạn như sau:
2.1. Phủ thành Đại La (thế kỷ VII-IX)
Dấu tích phủ thành Đại La được tìm thấy dưới lòng đất tại 18 Hoàng Diệu. Trong số các di vật tìm thấy có các loại gạch đề chữ “Giang Tây quân” thuộc kiến trúc thời Đường, gạch vuông có hình cá sấu và nhiều hình trang trí thể hiện phong cách nghệ thuật Việt… Tất cả cho thấy đây là tòa thành sớm nhất tại khu di tích Hoàng Thành Thăng Long [11].
Theo tư liệu lịch sử, Cao Biền đã tiến hành xây dựng quy mô lớn nhằm biến thành Đại La thành trung tâm phòng thủ kiên cố bậc nhất. "Biền đắp thành Đại La ở phía tây sông Cái, chu vi 1.982 trượng 7 thước, cao 2 trượng 6 thước, chân thành rộng 2 trượng 5 thước... có 55 vọng lâu, 6 cửa môn lâu, 3 cống thủy môn... lại đắp đê bao quanh ngoài thành 2.125 trượng 8 thước" [9].
Như vậy, ngoài mục đích phòng thủ, Cao Biền còn chú ý đến việc chống lũ lụt cho tòa thành. Từ góc độ thiết kế đô thị, phủ thành Đại La có cấu trúc trung tâm với mối quan hệ “thành - nước - địa hình”. Có thể coi đây là các yếu tố chi phối sự phát triển không gian Hoàng thành Thăng Long về sau.
2.2. Kinh Phủ thời Đinh - Tiền Lê (thế kỷ X)
Nằm trên cùng tầng văn hóa Đại La, 15 dấu tích kiến trúc thời Đinh - Tiền Lê được phát hiện, trong đó có nhiều loại gạch và vật liệu trang trí, quan trọng nhất là gạch màu đỏ tươi in hình chữ “Đại Việt quốc quân thành chuyên” [11]. Điều đó cho thấy Kinh Phủ thời Đinh - Tiền Lê phát triển tiếp nối trên vị trí phủ thành Đại La.
2.3. Thăng Long thời Lý (1010 - 1225), Trần (1226 - 1400)
Thăng Long thời Lý - Trần là một điển hình của tư duy quy hoạch đô thị phương Đông chịu ảnh hưởng của cấu trúc ba vòng thành theo quy tắc hình học kiểu Trung Hoa, nhưng có đặc trưng riêng bởi vòng thành ngoài - Đại La thành (hay Kinh thành) không vuông vức mà có hình tự nhiên như kiểu thành Cổ Loa của tổ tiên xưa [2].
Tại khu vực hoàng thành Thăng Long, ngay khi định đô (1010), vua Lý Thái Tổ đã chủ trương: “Phía trước dựng điện Càn Nguyên làm chỗ coi chầu, bên tả dựng điện Tập Hiền, bên hữu dựng điện Giảng Võ” [14].
Việc đặt điện Càn Nguyên tại vị trí trung tâm trên đỉnh núi Nùng (năm 1029 xây mới gọi là chính điện Thiên An) đã hình thành nên trục chính Bắc - Nam, tạo sự đối xứng cho toàn bộ các công trình còn lại trong tổng thể trung tâm hoàng thành.
Các cung điện thời Lý có quy mô lớn, nhưng đều là kiến trúc gỗ kết hợp với gạch, ngói, đá, rất đa dạng về mặt bằng và tổng thể đều được bố cục hướng tâm, đối xứng theo hướng Bắc - Nam và Đông - Tây. Lớn nhất và quan trọng nhất là trung tâm Hoàng thành Thăng Long với trục chính - trục thần đạo theo hướng Bắc - Nam.
Đó là cấu trúc phân lớp, tuyến tính với hệ thống gồm: cổng - đường - sân - chính điên là điểm nhấn trung tâm - các công trình khác, tạo thành chuỗi không gian nghi lễ, thể hiện rõ thứ bậc quyền lực và được tổ chức có tính quy chuẩn cao.
Đến thời Trần, cấu trúc phân lớp với trục đối xứng tiếp tục được củng cố, hoàn thiện, trở thành quy tắc nghiêm ngặt trong tổ chức không gian Hoàng thành Thăng Long. Ngoài ra, thời Trần tiếp tục phát triển hệ thống kiến trúc thời Lý trên nền được tôn cao hơn mang phong cách trang trí đặc sắc của thời Trần thông qua các tiến bộ kỹ thuật chế tác gốm, chất lượng cao và tinh xảo, nhất là gốm hoa lam nổi tiếng thế giới.
2.4. Đông Kinh thời Lê sơ (1427 - 1527), thời Mạc (1527 - 1592) và thời Lê Trung Hưng (1593 - 1788)
Thắng giặc Minh, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, hiệu Thuận Thiên, đóng đô tại Thăng Long gọi là Đông Kinh. Thời Lê tiếp nối truyền thống quy hoạch Thăng Long thời Lý, Trần, mở rộng thành và trong hoàng thành cho xây dựng điện Kính Thiên, điện Cần Chính, điện Vạn Thọ, Tả điện, Hữu điện.
Bằng chứng là khảo cổ học tìm thấy dấu tích móng tường Cấm thành thời Lê Sơ. Dấu tích tường lớn kết nối với nối với móng tường phía Đoan môn, tường nhỏ bao quan chính điện Kính Thiên. Tại khu vực điện Kính Thiên đã xác định 15 dấu tích kiến trúc gồm móng cột, lan can thành bậc chạm rồng của thềm điện Kính Thiên được làm năm 1467; Di vật kiến trúc gỗ sơn son thếp vàng; ngói rồng tráng men vàng hoặc men xanh và các chi tiết trang trí bằng gốm men nhiều màu tinh xảo; Ngự đạo và sân Đan Trì; Dấu tích kiến trúc hành lang [2] (Hình 1).
Hình 1. Bản đồ Thăng Long thời Hồng Đức 1490 (Viện Thông tin Khoa học xã hội)
Nhà Mạc xây dựng kinh đô mới ở Dương Kinh, Kiến Thụy, Hải Phòng nhưng vẫn sử dụng kinh đô Thăng Long. Nhìn chung, nhà Mạc sử dụng các cung điện thời Lê Sơ và không xây dựng nhiều ở kinh đô Thăng Long.
Dưới thời Lê Trung Hưng, tồn tại chế độ Vua Lê, Chúa Trịnh. Phủ Chúa nguy nga bên ngoài thành được xây dựng nhiều hơn so với trong hoàng thành. Khu vực hoàng thành vẫn gồm hệ thống cung điện thời trước và chính điện Kính Thiên vẫn là nơi diễn ra các sự kiện quan trọng nhất của vương triều. Phủ Chúa bên ngoài thành trở thành yếu tố tạo thị, thúc đẩy khu thị dân phát triển mạnh. Trong các ghi chép của người phương Tây thời bấy giờ, Thăng Long là một đô thị phồn vinh và hoàng thành hoành tráng và lộng lẫy [11].
Như vậy có thể thấy không gian Hoàng thành Thăng Long thời Lê Trung Hưng vẫn tuân theo cấu trúc đã được định hình thời Lý, Trần. Đó là cấu trúc phân lớp không gian theo trục thần đạo - trục trung tâm, tạo thành chuỗi không gian nghi lễ với chính điện Kính Thiên là điểm nhấn trung tâm, được tổ chức chặt chẽ mang tính quy chuẩn cao, thể hiện tính nghiêm cẩn và thứ bậc quyền lực của vương triều.
2.5. Thăng Long thời Tây Sơn (1778 - 1802) và thời Nguyễn (1802 - 1945)
Do thời gian trị vì không dài với nhiều biến động nên dấu ấn thời Tây Sơn ở Thăng Long không nhiều. Thăng Long bấy giờ được gọi là Bắc Thành. Đến năm 1802 cấu trúc hoàng thành và chính điện Kính Thiên thời Lê vẫn không thay đổi.
Dưới thời Nguyễn, vua Gia Long xây dựng kinh đô ở Huế, năm 1803 cho phá thành Thăng Long để xây dựng tòa thành mới quy mô nhỏ hơn, hình vuông theo kiểu Vauban. Từ đó Hoàng thành Thăng Long trải qua quá trình tái cấu trúc sâu sắc, từ kinh đô thành trị sở Bắc Thành.
Năm 1816 xây dựng lại điện Kính Thiên với quy mô nhỏ hơn. Năm 1831 vua Minh Mạng đổi tên Thăng Long thành Hà Nội. Đến năm 1841 vua Thiệu Trị đổi tên điện Kính Thiên thành điện Long Thiên. Mặc dù có nhiều biến đổi, nhưng về cơ bản dấu vết trục trung tâm hoàng thành Thăng Long với cấu trúc phân lớp vẫn còn hiện diện. (Hình 2, 3 ,4)
Hình 2. Bản đồ Hà Nội thời vua Đồng Khánh (1886 - 1888) (Sách Đồng Khánh địa dư chí)
Hình 3: Bản đồ thành Hà Nội 1873 [18]
Hình 4. Điện Long Thiên thời Nguyễn [12]
2.6. Hoàng thành Hà Nội thời Pháp thuộc (1882 - 1945)
Năm 1882, sau khi đánh thành Hà Nội lần thứ hai, thực dân Pháp chiếm thành, mở đầu cho giai đoạn phá huy di tích để lấy đất xây dựng các công trình theo kiểu kiến trúc trại lính phục vụ quân đội Pháp. Năm 1886, điện Long Thiên bị phá để xây dựng trụ sở chỉ huy pháo binh, tạo lớp quyền lực mới chồng lên không gian cũ.
Đó là dã tâm chiếm trọn không gian quyền lực tối cao của người Việt mà người Pháp gọi là “Chiến lược kiểm soát không gian có chủ đích” [10]. Đến năm 1889 thêm nhiều công trình đã được xây dựng tại khu vực hoàng thành và năm 1897 tòa thành Hà Nội bị phá bỏ để mở đường và phố mới.
Đến đây, toàn bộ điện Long Thiên và nền móng chính điện Kính Thiên thời Lê đã trở thành phế tích, chỉ còn Đoan Môn và Chính Bắc Môn. Dẫu vậy, dấu vết trục trung tâm hoàng thành vẫn còn, cho thấy cấu trúc phân lớp không gian và chồng lớp chức năng theo trục thần đạo vẫn chưa mất hẳn. (Hình 5, 6)

Hình 5: Bản đồ TP Hà Nội năm 1942 [2]
Hình 6. Toàn cảnh khu vực điện Long Thiên thời Pháp thuộc [1]
2.7. Hoàng thành Thăng Long hiện nay
Sau năm 1954, khu vực Hoàng thành Thăng Long tiếp tục là trung tâm quyền lực với chức năng tổng hành dinh quân đội. Năm 1967, nhà D67 và hệ thống hầm ngầm được xây dựng, hình thành cụm chỉ huy chiến lược trong kháng chiến chống Mỹ. Theo hồ sơ đề cử Di sản thế giới (2010), đây là minh chứng cho “sự kết nối liên tục của một trung tâm quyền lực chính trị trải dài hơn 13 thế kỷ” [18].
Hiện nay, với sự xuất hiện của Nhà Quốc hội, khu vực này chuyển đổi từ không gian quân sự sang trung tâm quyền lực quốc gia. Các thành phần như Đoan Môn, Chính Bắc Môn và Nhà D67 cùng tồn tại, tạo nên cấu trúc chồng lớp chức năng điển hình của Hoàng thành Thăng Long (Hình 7, 8).
Hình 7. Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long, phường Ba Đình, Hà Nội [18]
Hình 8. Mặt bằng và mặt cắt lõi trung tâm Hoàng thành Thăng Long [18]
3. Nhận diện cấu trúc không gian Hoàng thành Thăng Long
Qua việc đánh giá kết quả khai quật khảo cổ học và khái quát quá trình biến đổi không gian Hoàng thành Thăng Long từ thời Đại La đến nay, có thể cho phép xác định:
Vị trí Hoàng thành Thăng Long, đặc biệt là vị trí chính điện Kính Thiên. Đó là vị trí chính điện Kính Thiên hiện nay mà qua bao nhiêu triều đại vị trí chính điện không thay đổi. Theo các tư liệu lịch sử, việc xác định vị trí chính điện Kính Thiên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vì là mạch đất thiêng của kinh thành, nơi thông Thiên đạt Địa để tạo ra Vạn vật giao hòa, Quốc thái dân an, Quốc gia trường thịnh, Dân tộc vĩnh cửu [13].
Cấu trúc không gian Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội không phát triển theo mô hình thay thế tuyến tính, mà theo cơ chế tích lũy - chồng lớp - tái cấu trúc trên cùng một vị trí lịch sử. Lớp nền đầu tiên được thiết lập từ phủ thành Đại La (thế kỷ VII-IX) với cấu trúc thành - hào - sông.
Đến thời Lý - Trần (thế kỷ XI-XIV), cấu trúc này được nâng cấp thành hệ thống trục trung tâm - phân lớp không gian - chuỗi không gian nghi lễ, xác lập nên các nguyên tắc cơ bản của thiết kế đô thị phương Đông. Thời Lê (thế kỷ XV-XVIII) tiếp tục hoàn thiện cấu trúc phân lớp không gian theo trục chính Bắc - Nam, cấu tạo nên trung tâm Hoàng thành Thăng Long với chính điện Kính Thiên là công trình điểm nhấn chủ đạo.
Sang thời Nguyễn (thế kỷ XIX), mặc dù quy mô kinh thành Thăng Long bị thu hẹp và chuyển thành trung tâm trị sở Bắc thành, nhưng trục trung tâm và lõi quyền lực vẫn được duy trì, thể hiện quá trình tái cấu trúc có kế thừa. Đến thời kỳ hiện đại, từ giai đoạn Pháp thuộc đến sau năm 1954, quá trình chồng lớp chức năng diễn ra mạnh mẽ với nhiều công trình hành chính và quân sự được xây dựng.
Từ góc nhìn thiết kế đô thị, cấu trúc kinh thành có thể khái quát thành hệ thống trục trung tâm - phân lớp - chuỗi không gian - điểm nhấn được duy trì liên tục hơn 13 thế kỷ. Biến đổi chủ yếu diễn ra dưới dạng chồng lớp và điều chỉnh chức năng, tạo nên cấu trúc đô thị tích lũy có tính liên tục cao. Điều đó cho thấy, bảo tồn cần chuyển từ tiếp cận di tích đơn lẻ sang bảo tồn cấu trúc không gian tổng thể, đồng thời kiểm soát phát triển mới có thể duy trì tính xác thực và sự phát triển liên tục của đô thị lịch sử Thăng Long - Hà Nội trong bối cảnh đương đại.
4. Định hướng bảo tồn cấu trúc không gian Hoàng thành Thăng Long
4.1. Nguyên tắc bảo tồn và phát huy giá trị Hoàng thành Thăng Long
Định hướng bảo tồn và phát huy giá trị di sản Hoàng thành Thăng Long cần tuân thủ các nguyên tắc quốc tế và pháp luật Việt Nam. Đó là: Hiến chương Venice 1964: Bảo tồn và trùng tu dựa trên chứng cứ khoa học, tôn trọng yếu tố gốc [3]; Công ước Di sản Thế giới 1972: Bảo vệ giá trị nổi bật toàn cầu và tính toàn vẹn di sản [4]; Hiến chương Machu Picchu 1977: bảo tồn toàn bộ cấu trúc đô thị, cảnh quan và tính liên tục lịch sử [5]; Văn kiện Nara 1994: bảo đảm tính xác thực trong bối cảnh văn hóa cụ thể [6]; Luật Di sản văn hóa: Quy định quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản [16].
Đối với Hoàng thành Thăng Long, các tầng văn hóa lịch sử trong lòng đất nhất thiết phải được bảo tồn nguyên vẹn để người dân có thể tham quan và các chuyên gia tiếp tục nghiên cứu. Đồng thời bảo tồn và phát huy giá trị di sản cần được đặt trong mối quan hệ với phát triển bền vững, trong đó di sản không chỉ là đối tượng bảo vệ mà còn là nguồn lực phát triển. Việc tích hợp bảo tồn với các hoạt động du lịch văn hóa, sáng tạo và giáo dục di sản là đáp ứng nhu cầu xã hội đương đại và góp phần nâng cao giá trị nổi bật toàn cầu của khu di sản thế giới. Như vậy bảo tồn và phát triển không đối lập mà hỗ trợ lẫn nhau.
Cuối cùng, các nguyên tắc bảo tồn và phát huy giá trị di sản hoàng thành Thăng Long không chỉ đề cập công trình riêng lẻ, mà toàn bộ cấu trúc không gian trên cơ sở kết quả khai quật khảo cổ học, sử liệu và nghiên cứu đối sánh.
4.2. Bảo tồn và phát huy giá trị không gian trung tâm Hoàng thành Thăng Long
Trục không gian trung tâm Bắc - Nam (trục thần đạo) từ Đoan Môn qua chính điện Kính Thiên đến Chính Bắc Môn, là thành phần cốt lõi của cấu trúc không gian Hoàng thành Thăng Long, phản ánh cách thức tổ chức quyền lực và trật tự nghi lễ được duy trì liên tục qua các thời kỳ.
Trong bối cảnh đương đại, bảo tồn trục này cần được tiếp cận như bảo tồn một không gian lịch sử liên tục, trong đó việc kiểm soát tầm nhìn, chiều cao công trình và tổ chức không gian mở có vai trò quyết định. Đồng thời cần đặc biệt chú ý các công trình điểm nhấn, mà quan trọng nhất là chính điện Kính Thiên, thông qua tổ chức tuyến tiếp cận, không gian mở và hệ thống diễn giải, nhằm tăng khả năng nhận diện cấu trúc lịch sử và tính liên tục không gian (Hình 9).

Hình 9. Mô phỏng trục thần đạo trong cấu trúc không gian Hoàng thành Thăng Long [1]
Bảo tồn cấu trúc không gian hoàng thành không thể tách rời với các thành phần kiến trúc đô thị xung quanh. Tương tự cần chú trọng duy trì cấu trúc phân 3 lớp không gian của kinh thành cũng như phân lớp không gian của hoàng thành vốn đã được định hình qua các triều đại, tạo nên giá trị đặc trưng.
Từ đó có các giải pháp bảo tồn cho các lớp không gian theo hướng: Bảo vệ nghiêm ngặt lớp lõi (khống chế chiều cao, mật độ rất thấp, không gian cảnh quan); Kiểm soát chặt lớp hoàng thành (giữ tỷ lệ khối tích, khoảng lùi, hướng nhìn về trục) và điều tiết lớp bao quanh như vùng đệm để hấp thụ phát triển. Đồng thời, cần làm rõ sự chuyển tiếp giữa các lớp thông qua tổ chức tuyến tiếp cận, thiết kế cảnh quan, qua đó khôi phục cấu trúc phân lớp trong không gian kinh thành và hoàng thành.
Như vậy có thể thấy, định hướng bảo tồn và phát huy giá trị di sản không giới hạn trong phạm vi hoàng thành hay từng hố khảo cổ, mà cần mở rộng sang tổ chức trải nghiệm đô thị. Cần tái lập các tuyến tiếp cận chính, không gian đi bộ, cảnh quan để kết nối khu di sản với khu phố cổ và các không gian lân cận.
Việc tái lập hình ảnh hoàng thành có thể thực hiện bằng thiết kế cảnh quan, sử dụng vật liệu, chiếu sáng, mô hình diễn giải và các tuyến tham quan theo trục - lớp - điểm. Qua đó, người sử dụng có thể đọc được cấu trúc kinh thành không chỉ bằng thông tin trưng bày, mà bằng trải nghiệm thực tế.
4.3. Phục dựng có kiểm soát chính điện Kính Thiên
Chính điện Kính Thiên là điểm nhấn quan trọng nhất của trục quyền lực và chuỗi nghi lễ trong cấu trúc không gian Hoàng thành Thăng Long. vì vậy, phục dựng cần được tiếp cận như điểm chốt để khôi phục cấu trúc không gian tổng thể. Việc phục dựng nhất thiết phải dựa trên căn cứ khoa học là kết quả nghiên cứu tư liệu khảo cổ học, sử học và kết quả khảo sát thực tế cũng như tham khảo kinh nghiệm quốc tế.
Đồng thời tuân thủ nguyên tắc phục dựng theo chuẩn mực quốc tế về tính xác thực. Trong trường hợp dữ liệu chưa đầy đủ, cần ưu tiên giải pháp diễn giải không gian và cảnh quan, tránh phục dựng giả cổ, đồng thời bảo đảm khả năng nhận diện trục và trung tâm trong đô thị đương đại.
4.4. Phục hồi các giá trị phi vật thể gắn với không gian Hoàng thành Thăng Long
Bảo tồn cấu trúc không gian cần gắn với phục hồi các giá trị phi vật thể, bởi hoàng thành được hình thành để phục vụ các nghi lễ chính trị, ngoại giao và văn hóa cung đình. Các nghi thức đại triều hoặc các hình thức diễn xướng có thể được nghiên cứu, diễn giải và tái hiện ở mức độ phù hợp.
Tuy nhiên, việc phục hồi cần tránh xu hướng sân khấu hóa hoặc thương mại hóa quá mức. Giá trị chính của hoạt động này là tái kích hoạt mối quan hệ giữa không gian và nghi lễ, làm cho di sản không chỉ được nhìn thấy như vật thể tĩnh, mà được cảm nhận như một không gian văn hóa sống [20].
4.5. Tái lập các làng nghề truyền thống phục vụ công tác bảo tồn, phục dựng
Quá trình phục dựng chính điện Kính Thiên và các công trình liên quan có thể trở thành cơ hội phục hồi tri thức làng nghề truyền thống. Các làng nghề như gốm Bát Tràng, nghề mộc, chạm khắc đá, đúc đồng, làm ngói, trang trí kiến trúc có thể tham gia vào quá trình nghiên cứu vật liệu, kỹ thuật và cấu kiện phục dựng.
Việc huy động nghệ nhân không chỉ giúp tăng tính xác thực về kỹ thuật và vật liệu, mà còn mở rộng phạm vi bảo tồn từ di sản kiến trúc sang di sản tri thức bản địa. Đây là hướng tiếp cận nhân văn, gắn bảo tồn kinh thành với cộng đồng, tạo chuỗi giá trị văn hóa - kinh tế bền vững cho các làng nghề quanh Hà Nội.
5. Kết luận
Hoàng thành Thăng Long được hình thành và phát triển như một cấu trúc không gian tích lũy và chồng lớp liên tục, trong đó các thành phần trục, trung tâm, phân lớp và điểm nhấn không gian được duy trì và biến đổi qua các giai đoạn lịch sử. Từ góc độ thiết kế đô thị, giá trị cốt lõi của di sản không chỉ nằm ở từng công trình riêng lẻ, mà ở tổ chức không gian tổng thể. Bảo tồn cần chuyển từ tiếp cận bảo vệ di tích đơn lẻ sang bảo tồn cấu trúc không gian, bảo đảm tính xác thực và tính liên tục trong bối cảnh phát triển đương đại.
Trên cơ sở đó, ưu tiên bảo tồn và phát huy giá trị trục không gian trung tâm, không gian chính điện Kính Thiên và chính điện Kính Thiên, đồng thời kiểm soát chặt chẽ cấu trúc phân lớp không gian thông qua quy hoạch và thiết kế đô thị. Việc phục dựng chính điện Kính Thiên cần được thực hiện có kiểm soát, dựa trên cơ sở khoa học và gắn với phục hồi giá trị phi vật thể. Bên cạnh đó, cần tăng cường công cụ công nghệ kỹ thuật số diễn giải không gian, kết nối di sản với không gian công cộng và phát triển đô thị bền vững, nhằm biến Hoàng thành Thăng Long thành một di sản sống, vừa bảo tồn giá trị lịch sử, vừa thích ứng với nhu cầu của xã hội hiện đại.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Trần Việt Anh. Kiến trúc điện Kính Thiên tại Hoàng thành Thăng Long. Tạp chí Kiến trúc, 2022.
[2] Trần Hùng, Nguyễn Quốc Thông. Thăng Long - Hà Nội mười thế kỷ đô thị hóa. NXB Xây dựng, 1995.
[3] ICOMOS. Venice Charter, 1964.
[4] UNESCO. World Heritage Convention, 1972.
[5] ICOMOS. Machu Picchu Charter, 1977.
[6] ICOMOS. Nara Document on Authenticity, 1994.
[7] Doãn Minh Khôi. Hình thái học đô thị. NXB Xây dựng, 2019.
[8] Marie-Laure Lavenir. Nguyên tắc về tính xác thực của di sản và Hiến chương Venice. Hội thảo quốc tế, 2022.
[9] Ngô Sĩ Liên. Đại Việt sử ký toàn thư. NXB Khoa học Xã hội, 1998.
[10] André Masson. Hà Nội giai đoạn 1873 - 1888. NXB Hải Phòng, 2003.
[11] Tống Trung Tín. Kết quả nghiên cứu khai quật khảo cổ học tại khu vực nền chính điện Kính Thiên. Thông tin Di sản - Hoàng thành Thăng Long, 2025.
[12] Tống Trung Tín. Chính điện Kính Thiên và không gian chính điện Kính Thiên. Tạp chí Khảo cổ học, 2012.
[13] Tống Trung Tín, Nguyễn Thanh Quang, Đỗ Đức Tuệ. Cấu trúc nền móng và mặt bằng điện Kính Thiên thời Lê Trung Hưng thế kỷ XVII-XVIII tại khu di sản thế giới Hoàng thành Thăng Long qua phát hiện khảo cổ học. Thông tin Di sản - Hoàng thành Thăng Long, 2023.
[14] Lê Hữu Trác. Thượng kinh ký sự. NXB Văn học, 1989.
[15] Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục. NXB Giáo dục, 2002.
[16] Quốc hội Việt Nam. Luật Di sản văn hóa (sửa đổi, 2009), 2001.
[17] UBND TP Hà Nội. Định đô Thăng Long - tầm nhìn thiên niên kỷ. NXB Hà Nội, 2020.
[18] UBND TP Hà Nội. Hồ sơ đề cử UNESCO Hoàng thành Thăng Long. 2010.
[19] Trần Quốc Vượng. Với Thăng Long Hà Nội. NXB Thế giới, 2011.
[20] Đỗ Ngọc Yến, Đặng Thị Hòa, Đinh Thị Nguyệt. Văn hóa phi vật thể cung đình Thăng Long: nghiên cứu và bước đầu thể nghiệm. Hội thảo quốc tế, 2022.
GS.TS.KTS Nguyễn Quốc Thông*, KTS Cao Thành Nghiệp** *Hội Kiến trúc sư Việt Nam; **Viện Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Kiến trúc TP.HCM